|
- Để xây dựng dự Luật Phòng, chống buôn bán người, Bộ Tư pháp và Tổ chức di cư quốc tế IOM vừa tổ chức hội thảo “Một số nội dung cụ thể của Dự án Luật Phòng, chống buôn bán người” trong 2 ngày 29 và 30/9.
Trong những năm qua, để đối phó với tình trạng buôn bán người ngày càng gia tăng cả về tính chất lẫn số lượng, cùng với xu hướng chung của các nước trên thế giới, Việt Nam cũng đã có nhiều nỗ lực trong việc đưa ra các giải pháp nhằm đấu tranh phòng, chống một cách có hiệu quả đối với tội phạm buôn bán người, trong đó việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật được coi là một trong các giải pháp cơ bản, quan trọng và được đặt lên hàng đầu. Vì thế,Luật Phòng, chống buôn bán người đã được đưa vào trong Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội chính thức năm 2010 để Quốc hội cho ý kiến. Tuy nhiên, ngoài những yêu cầu cần thiết của một đạo luật nói chung, thì việc xây dựng Luật Phòng, chống buôn bán người còn nhiều vấn đề được đặt ra.
Theo ông Trần Văn Đạt - Vụ Các vấn đề chung về xây dựng pháp luật, Bộ Tư pháp, tại Việt Nam , các văn bản pháp luật hiện hành ít sử dụng khái niệm buôn bán người. Cụ thể, Bộ luật Hình sự chỉ có tội “Mua bán người”. Thuật ngữ buôn bán phụ nữ, trẻ em tuy được dùng khá phổ biến trong các văn bản pháp luật, tuy nhiên chưa có một định nghĩa chính thức thế nào là buôn bán phụ nữ, trẻ em mà các khái niệm này hoặc chưa được giải thích đầy đủ hoặc được giải thích chưa cụ thể và toàn diện.
Ông Đạt cho rằng, Luật Phòng, chống buôn bán người của Việt Nam cần có một điều luật riêng quy định về khái niệm buôn bán người. Và, khái niệm này sẽ là cơ sở quan trọng nhất và được hiểu một cách thống nhất trong toàn bộ hệ thống pháp luật và đó cũng là cơ sở cho việc quy định tất cả các vấn đề liên quan đến hoạt động phòng, chống buôn bán người sau này. Theo đó, “buôn bán người là hành vi mua, bán, tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, che dấu, tiếp nhận người bằng bất kỳ thủ đoạn nào nhằm mục đích bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc lấy nội tạng cơ thể của người đó để trục lợi”
Bên cạnh đó, nhiều ý kiến bổ sung “hành vi mua, bán, tuyển mộ, vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, che dấu, tiếp nhận người dưới 18 tuổi hoặc người bị tâm thần mà được sự đồng ý của họ, nhằm mục bóc lột sức lao động, bóc lột tình dục hoặc lấy nội tạng cơ thể của người đó để trục lợi” cũng phải được coi là hành vi buôn bán người.
Phòng, chống buôn bán người ngay từ cơ sở
Trong thực tế cho thấy rất nhiều nạn nhân sau khi được giải cứu từ các vụ buôn bán người trở về đều không hình dung hết được những nguy hiểm mà mình vừa trải qua. Do vậy, hoạt động buôn bán người gia tăng nhanh chóng, bên cạnh các lý do khách quan khác, còn có lý do chủ quan từ chính các nạn nhân: kém hiểu biết và thiếu thông tin.
Theo bà Nguyễn Thanh Trúc – Phòng Bảo vệ trẻ em, Unicef, trong các biện pháp phòng ngừa chung, cần đặc biệt chú trọng công tác thông tin tuyên truyền về phòng, chống buôn bán người để thay đổi thái độ và hành vi của đông đảo nhân dân về loại tội phạm này. Bên cạnh đó, cũng phải xây dựng mạng lưới phòng, chống buôn bán người tại cộng đồng để đây thực sự trở thành “barie” vững vàng ngay từ cơ sở trong việc chống lại hành vi buôn bán người.
Ngoài ra, các hoạt động kết hôn có yếu tố nước ngoài, đưa người đi lao động xuất khẩu... rất dễ trở thành “mảnh đất” tốt cho tội phạm buôn bán người lợi dụng. Vì thế, phải kiểm soát và giám sát chặt chẽ các hoạt động này từ cơ sở hoạt động cho tới sự công khai, minh bạch thông tin, bên cạnh đó cũng phải đưa ra những “địa chỉ đỏ” để làm phao cứu sinh cho nạn nhân khi cần thiết. Bên cạnh đó, còn có ý kiến cho rằng cần quản lý chặt chẽ hoạt động cho, nhận con nuôi để ngăn chặn tệ nạn buôn bán người vì đây cũng là một hoạt động chứa nhiều nguy cơ cao.
|
Theo Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình 130/CP từ năm 2005 đến nay cả nước đã phát hiện hơn 1.600 vụ mua bán phụ nữ, trẻ em, trong đó có 4.300 phụ nữ, trẻ em bị mua bán. Riêng 6 tháng đầu năm 2009 đã xảy ra 191 vụ, trong đó có 417 phụ nữ, trẻ em bị buôn bán. Cũng Báo cáo trên cho thấy trong số nạn nhân trên thì 60% nạn nhân bị buôn bán tự trở về, 19% trở về qua con đường giải cứu, 21% qua con đường trao trả. |
|